Điểm Tin Cập Nhật

0
Trong bức thư ngày 28 tháng 2 1946, Hồ Chí Minh gửi đến Tổng thống Hoa Kỳ, Harry S. Truman, yêu cầu xin sự hỗ trợ của Mỹ trong cuộc đấu tranh giành độc lập cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.



"Chủ tịch Hồ Chí Minh - Việt Nam dân chủ cộng hòa - Hà Nội
Xin gửi tới ngài Tổng thống Hoa Kỳ, Washington DC

Thay mặt chính phủ và nhân dân Việt Nam, tôi xin trân trọng thông báo cho ngài rằng trong quá trình các cuộc hội thoại giữa Chính phủ Việt Nam và đại diện Pháp, Pháp đòi hỏi sự ly khai của Nam Bộ và sự trở lại của quân đội Pháp tại Hà Nội, trong khi đó dân và quân đội Pháp đang hoạt động chuẩn bị cho một cuộc đảo chính ở Hà Nội và xâm lược quân sự. Vì vậy, bản thân tôi đưa ra lời yêu cầu tha thiết tôn trọng nhất tới Ngài và những người dân Mỹ để can thiệp khẩn cấp và hỗ trợ độc lập cho chúng tôi và giúp làm cho các cuộc đàm phán phù hợp với các nguyên tắc của Điều lệ Đại Tây Dương và San Francisco.
Kính
HoChiMinh"


Đây là sự thật trong lịch sử Việt Nam xảy ra vào năm 1946. Chúng ta có vài câu hỏi:

* Tại sao Chủ tịch HCM lại xin sự giúp đỡ từ Hoa Kỳ? Thay vì các nước khác?

* Tại sao Mỹ không giúp đỡ Chủ tịch HCM?


* Nếu Mỹ giúp đỡ Việt Nam qua sự yêu cầu của Chủ tịch HCM năm 1946 thì tương lai Việt Nam bây giờ ra sao?

Từ Facebook.
0
Sử gia Benedict Anderson mở đầu cuốn sách bàn về các “phong trào dân tộc,” xuất bản năm 1983, ông nhắc ngay đến các cuộc chiến tranh ở bán đảo Ðông Dương, giữa Việt Nam với Campuchia từ cuối năm 1978, và Trung Quốc với Việt Nam đầu 1979.




Sử gia Benedict Anderson mở đầu cuốn sách bàn về các “phong trào dân tộc,” xuất bản năm 1983, ông nhắc ngay đến các cuộc chiến tranh ở bán đảo Ðông Dương, giữa Việt Nam với Campuchia từ cuối năm 1978, và Trung Quốc với Việt Nam đầu 1979.
Anderson thấy một hiện tượng đáng chú ý: Các chính quyền cộng sản nào phát động các cuộc chiến này không ai nhắc nhở gì đến “Chủ nghĩa Mác” để biện minh cho những cái chết của bao nhiêu người dân và binh sĩ mà họ gây ra. Nó khác hẳn “mô típ” quen thuộc của các chính quyền cộng sản trước đó.

Anderson nhắc lại các vụ quân Nga can thiệp vào nước Ðức (1953), Hungary (1956), Tiệp Khắc (1968), Afghanistan (1980) và các cuộc đụng độ biên giới giữa Nga Xô và Trung Cộng năm 1969. Trong các cuộc dụng binh đó họ vẫn còn nêu lên các khẩu hiệu “bảo vệ chủ nghĩa xã hội” hoặc “chống đế quốc xã hội chủ nghĩa.” Những chữ “xã hội chủ nghĩa” hồi đó còn linh thiêng lắm. Các cuộc chiến ở Ðông Dương năm 1978, 1979 là chiến tranh giữa các chế độ cùng theo “chủ nghĩa xã hội” như nhau! Cái khác nhau là dân tộc, họ xúi người Việt, người Campuchia, người Trung Quốc đánh giết nhau. Dân tộc là một động lực thúc đẩy lịch sử, mà trong hàng thế kỷ trước đó, các người quá tin vào chủ thuyết của Karl Marx đã tự bịt mắt họ nên không chịu nhìn thấy. Rõ ràng, dân tộc là một hiện tượng xã hội rất cần nghiên cứu, đáng được phân tích kỹ lưỡng.

Benedict Anderson đã nhìn ra việc lợi dụng tinh thần dân tộc, tự ái dân tộc ngay trong quá trình phát triển phong trào cộng sản quốc tế. Ở những nước như Việt Nam, Trung Quốc, Campuchia, các đảng cộng sản chiếm được chính quyền không phải vì họ lôi cuốn được người dân tin vào chủ nghĩa cộng sản. Chủ nghĩa đó quá xa vời. Trong thực tế, các đảng cộng sản đã dựa vào làn sóng giải phóng dân tộc để kêu gọi người ta hy sinh. Ý thức dân tộc là một động cơ vừa mạnh vừa có nguồn gốc sâu xa hơn mọi thứ chủ nghĩa. Không cần đợi tới năm 1989, khi các chế độ cộng sản sụp đổ hàng loạt như những quân bài domino người ta mới thấy như vậy. Sau năm đó thì cái gọi là chủ nghĩa cộng sản đã “hết thiêng” rồi, ngay các đảng viên cộng sản cũng mất hết niềm tin. Các đảng cộng sản còn sống sót cũng cố ý lờ đi không nói đến chủ nghĩa nữa.

Tại nước ta ngay bây giờ, chính quyền cộng sản đang nhân danh cái gì khi họ đàn áp những người đòi dân chủ tự do, khi họ bỏ tù những Ðiếu Cày, Tạ Phong Tần, Cù Huy Hà Vũ? Tội danh họ thường gán cho các nhà tranh đấu dân chủ là tội “chống nhà nước” hay “âm mưu lật đổ nhà nước;” trong hình luật. Ðảng Cộng sản không hề nói đến chủ nghĩa xã hội, là thứ mà họ vẫn nhân danh để biện minh cho việc chiếm độc quyền cai trị 90 triệu người dân Việt. Trong khi đó thì những người Việt Nam yêu nước đang vận động khắp nơi trên thế giới để bảo vệ mạng sống và con đường tranh đấu của Ðiếu Cày, nhân danh quyền sống của dân tộc Việt Nam. Các nhà trí thức, các bloggers trong nước, các đoàn thể ở hải ngoại khi lên tiếng yêu cầu cả thế giới can thiệp bảo vệ Ðiếu Cày đều nhân danh dân tộc, nhân danh quyền bảo vệ tổ quốc Việt Nam trước các âm mưu bành trướng của Cộng sản Trung Hoa. Ðiếu Cày, Tạ Phong Tần, Nguyễn Phương Uyên, Ðỗ Thị Minh Hạnh, vân vân, được đồng bào yêu mến vì lòng yêu nước của họ chứ không phải vì một chủ nghĩa trừu tượng nào cả. Nói như Benedict Anderson, chúng ta đang sống trong một “Cộng đồng Tưởng tượng,” là dân tộc Việt Nam, cho nên cùng nhau tranh đấu.

Cuốn sách của Benedict Anderson đặt tựa đề là “Những Cộng đồng Tưởng tượng: Suy nghĩ về nguồn gốc và sự bành trướng của phong trào dân tộc” (Imagined communities: reflections on the origin and spread of nationalism, in lần đầu năm 1983).

Anderson mô tả một dân tộc (nation) là một “Cộng đồng Tưởng tượng,” vì người ta không cần phải gặp nhau, không cần nhìn thấy nhau, nhưng trong đầu vẫn nghĩ tất cả mọi người cùng thuộc vào một “cộng đồng” có thật. Một đặc tính của cộng đồng này là nó có giới hạn, dù biên giới của nó khá co giãn (elastic). Người Pakistan tự nhận họ thuộc một dân tộc dù họ nói nhiều ngôn ngữ khác nhau. Người Bangladesh thấy họ là một dân tộc, cần tách ra khỏi nước Pakistan. Ðó là những “Cộng đồng Tưởng tượng,” chỉ vì người ta muốn như thế. Người ta biết họ thuộc vào một dân tộc, và mặc nhiên coi những người khác cũng nghĩ như mình; bên ngoài biên giới đó là “người khác, dân khác.” Ðặc tính thứ hai mà Anderson nhấn mạnh là chủ quyền. Khi thấy mình là một dân tộc thì người ta cũng nghĩ họ có quyền quyết định trên cuộc sống chung của họ với nhau. Quyền này vượt trên các chế độ chính trị, các vương quốc hay đế quốc đang cai trị họ. Ở Châu Âu vào thế kỷ 19, nhiều nhóm dân sống rải rác trong các đế quốc hay vương quốc nhưng cùng chung một ngôn ngữ, chia sẻ những tập tục văn hóa với nhau. Ðến lúc họ ý thức được mối liên hệ này một cách nồng nhiệt, và bày tỏ ý nguyện được xác định ý thức dân tộc và đòi quyền sống như những dân tộc, phong trào này tiếp tục thay đổi bản đồ châu Âu trong hai thế kỷ.

Các đảng Cộng sản thành công ở nhiều nước nhờ đã đội lốt phong trào dân tộc trong các cuộc cách mạng gọi là giải phóng. Người dân Việt (hay dân Trung Hoa, dân Campuchia) nghe nói “giải phóng” thì nghĩ đến việc thoát khỏi vòng đô hộ và chính sách bóc lột của các đế quốc thực dân. Còn theo đúng chủ nghĩa cộng sản thì nói “giải phóng” có nghĩa là giai cấp công nhân vùng lên lật đổ giai cấp “tư bản bóc lột.” Nhưng ngay từ đầu, các đảng cộng sản cũng mạo danh cả chủ nghĩa Mác để lòe bịp người lao động. Vì nếu đúng theo chủ nghĩa của Karl Marx, thì không thể nào có cách mạng vô sản ở các nước như Trung Hoa, Việt Nam, và Campuchia. Marx xác định rằng cách mạng vô sản chỉ bắt đầu ở các xã hội với một nền kinh tế tư bản đã phát triển hết tiềm năng của nó, chính nó tạo ra giai cấp vô sản sống cực khổ trong các thành thị, những người lao động sẽ “đóng vai trò lịch sử” thay đổi trật tự, giúp cả xã hội cùng tiến lên. Bây giờ thì ai cũng biết các lời tiên đoán của ông Karl Marx sai hết. Lịch sử nhân loại đã quẹo qua một ngả rẽ khác hẳn. Nhưng vào những năm 1930 nếu người ta tin vào kịch bản do ông Marx vẽ ra thì những nước Trung Hoa, Việt Nam, và Campuchia cũng chưa hội đủ các điều kiện để có “cách mạng vô sản” như ông ta tiên đoán.

Một cuộc kiểm tra dân số ở Việt Nam năm 1937 cho thấy rõ điều này. Nước ta chưa thật sự công nghiệp hóa, 95% dân chúng sống ở nông thôn. Những người cộng sản lúc đó tuyên truyền là có một giai cấp tư bản bóc lột lao động ở nước ta. Nhưng trong thực tế cái gọi là giai cấp tư bản nội địa đó chỉ có khoảng 10,500 gia đình, gồm những địa chủ không tự mình làm ruộng mà chỉ thuê người khác làm, một số nhỏ các nhà kinh doanh, và các công chức làm cho chính quyền thuộc địa. Con số đó chỉ chiếm nửa phần trăm (0.5%) dân số cả nước. Có thể nói, nước ta chưa có một giai cấp tư sản.

Nguồn: Diễn Đàn Thế Kỷ
0

THÁNG TƯ, NÓI CHUYỆN KẺ THUA NGƯỜI THẮNG



Thật ra chẳng ai muốn mất thời giờ để đối thoại với kẻ thắng, là đảng Việt gian cộng sản và đám bồi bút của chúng làm gì. Lý do đơn giản, cộng sản xứ nào, ở đâu cũng thuộc thành phần bịp bợm, ngoan cố và tráo trở. Đối với Việt Nam, chúng còn thêm cái bản tính cao ngạo của hạng người đã ít học lại thiếu văn hóa, thì chẳng cần gì phải mất công nói chuyện với chúng !


Bài góp ý nầy có ba mục đích. Một, nhằm vạch trần bộ mặt thật của kẻ thắng để gởi đến các bạn trẻ sinh ra cũng như trưởng thành sau năm 1975. Hai, thách thức đối thoại với những người lúc nào cũng lớn tiếng bênh vực chế độ cộng sản Việt Nam. Ba, để tát vào mặt những ai mà mãi đến giờ nầy vẫn còn cố tình ca tụng đảng cướp cộng sản. Chiến thắng ‘thần thánh’ và ‘vinh quang’ của cộng sản chỉ là một trò lường gạt mà chúng đã âm mưu tráo trở dưới chiêu bài ‘giải phóng’ cũng như ‘thống nhất đất nước’ ! 


Để mở đầu, tôi đồng ý cộng sản miền Bắc đã thắng vài trận lớn trước ngày chúng công khai xua quân vào chiếm Việt Nam Cộng Hòa. Đó là hai trận mà quân cộng sản Bắc Việt đã dứt điểm Điện Biên Phủ, một vị trí quan trọng, xem như thành trì cuối cùng của quân đội Pháp trên đất Việt Nam. Và tại Khe Sanh, lính chính quy cộng sản đã tràn ngập vị trí phòng thủ chiến lược của quân đội Mỹ, nơi bảo vệ tuyến đầu Việt Nam Cộng Hòa và cũng là nút chận cửa ngõ xâm nhập miền Nam qua đường mòn HCM. Nhưng theo hồi ký do các tư lệnh bộ đội miền Bắc viết cũng như huênh hoang của các quản giáo trại tù thì họ đã xử dụng chiến thuật thí quân ồ ạt để đạt cho bằng được thắng lợi theo lệnh của già Hồ. Trong hai trận Điện Biên Phủ và Khe Sanh, mỗi nơi cộng sản đã thí trên một trăm ngàn trẻ em vị thành niên bằng những chiến thuật biển người. Điều nầy chứng tỏ chế độ Hà Nội không bao giờ xem trọng sanh mạng con người mà cộng sản chỉ biết dùng xương máu người dân miền Bắc làm vật hy sinh để đạt mục đích xâm chiếm miền Nam. 


Vậy thì hai chiến thắng Điện Biên Phủ và Khe Sanh không có gì gọi là vinh quang và thần thánh, mà đây chính là những lần thí quân tàn nhẫn vô nhân đạo (phải đánh cho đến giọt máu cuối cùng - lời của già Hồ) chưa bao giờ thấy trong lịch sử chiến tranh của nhân loại. Xin nói rõ trong kế hoạch công đồn, ngoài việc quân cộng sản cắt bớt khẩu phần ăn của người lính (tiết lộ của quản giáo trong trại cải tạo KàTum, Long Khánh) còn dùng chiến thuật biển người xua quân lính dưới quyền vượt qua hàng rào phòng thủ bằng lựu đạn, mìn và kẽm gai, là nơi bãi tác xạ không hạn chế dành cho pháo binh và vùng dội bom tự do của Không Quân Việt Mỹ. Ngoài ra, chỉ huy chiến trường còn xiềng chân xạ thủ vào súng cộng đồng cũng như các cổ đại pháo, cột chân tài xế vào xe tải, xe tăng…để không còn một ai có thể thối lui hoặc thoát chạy. Đây là một hành động độc ác mà cộng sản đã xử dụng lính thuộc cấp của họ còn tàn nhẫn hơn đối với súc vật như thế giới đã thấy qua các trận chiến đối đầu với Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa và Đồng Minh trước đây. Người bộ đội Bắc Việt chỉ còn đường độc nhất. Một là chịu chết đói. Hai là muốn ăn thì phải tiến lên chọc thủng phòng tuyến các đơn vị phòng thủ Pháp, Mỹ và Việt Nam để kiếm thực phẩm bỏ vào bao tử ! 


Tại sao cộng sản thắng hai trận nầy ? Theo binh pháp, trên một chiến trường cố định, nếu bên nào đông quân, xử dụng thế công với chiến thuật thí quân liên tục, không hạn chế, không tính toán…thì chắc chắn cuối cùng họ sẽ thắng bên chống đở đang ở trong thế thủ. 


Đến năm 1975, khi cộng quân vào chiếm miền Nam, lính chính quy đã tiến quân ồ ạt, nhanh chóng và đi như thế chẻ tre, nhưng cũng chẳng vinh quang và thần thánh gì như chúng thường huênh hoang qua sách báo ! Từ Quảng Trị đến Nhatrang, bộ đội Bắc Việt tiến vào Nam trong cảnh nhà không đồng trống, trong lúc Quân Đội miền Nam đã được lệnh di tản vào Nam để phối trí lại tại Vùng III và vùng IV Chiến thuật. Đoàn quân cướp nước xuôi Nam dễ dàng trên quốc lộ 1, nhưng khi đến đèo Rù Rì (Nhatrang Khánh Hòa) thì khựng lại vì e ngại đàng sau đèo là cái bẫy của Quân Đội VNCH. Bộ đội miền Bắc án binh bất động đến gần hai ngày. Sau đó một ‘phái đoàn’ của Nhatrang ra tận nơi để thông báo rằng thành phố đã mở cửa chờ sẵn, chúng mới bắt đầu tiến vào thành phố ! Nhưng đến Long Khánh thì đoàn quân cộng sản hoàn toàn bị chận và phải chiến đấu ác liệt với Sư Đoàn 18 Bộ Binh cho đến khi có lệnh buộc quân lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa phải bỏ súng đầu hàng. Sau cùng, đối với vùng III và vùng IV Chiến thuật, bộ đội chỉ gặp những trận chống cự lẻ tẻ của những đơn vị không tuân hành lệnh đầu hàng mà Dương Văn Minh kêu gọi trên đài phát thanh Sàigòn. Do đó, cuộc tiến quân của cộng sản Bắc Việt đã dễ dàng như trở bàn tay. 


Vậy, lý do nào quân cộng sản Bắc Việt tiến chiếm miền Nam, có thể nói, là dễ dàng từ Bến Hải đến Sàigòn ? Xin trả lời ngay, Việt Nam Cộng Hoà và Quân Đội Miền Nam đã bị đồng minh Mỹ bán đứng cho Tàu cộng và Việt cộng. Kết quả thật đắng cay là Mỹ vừa tháo chạy, vừa hăm dọa nhà cầm quyền Đệ Nhị Cộng Hòa, vừa cúp viện trợ nhưng lại tuyên bố với thế giới là họ rút lui trong danh dự để Việt Nam tự giải quyết chuyện nội bộ với nhau ! Lịch sử đã chứng minh bằng một tài liệu mật vừa được giải mã, chính Kissinger âm thầm đi đêm qua Bắc Kinh để bán đứng Việt Nam Cộng Hòa cho Tàu cộng cũng như Việt cộng từ năm 1971. Ngoài ra, Mỹ cũng đã công khai bán đứng miền Nam và bắt tay hợp tác với cộng sản được ghi rõ ràng trong hiệp định Paris năm 1973 qua hai vai chánh được trọn quyền quyết định là Mỹ và Hà Nội theo điều 22 Chương VIII (*). Kết quả của việc phản bội nầy, toàn bộ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa phải buông súng đồng loạt, do đó dù là một đội quân hùng mạnh của miền Nam nhưng đành phải bó tay trước quân cộng sản Bắc Việt. Nhiều nhà phân tích quân sự cho rằng, nếu người Mỹ không vì quyền lợi của họ để bán đứng người bạn đồng minh Việt Nam Cộng Hòa thì quân cộng sản Bắc Việt còn lâu mới đặt chân lên được vùng đất tự do miền Nam. Vậy tôi có thể kết luận một điều chắc chắn rằng, cuộc chiếm miền Nam chẳng có gì gọi là thần thánh và vinh quang nếu người Mỹ không ‘cho phép’ Hà Nội vượt biên giới xâm lăng, thì dù tổ chức và khả năng của đội quân Bắc Việt được Tàu cộng và Liên sô đồng loạt nhúng tay vào bằng vũ khí cũng như nhân lực thì Hà Nội cũng không thể nào thắng được miền Nam ! 


1. Cái nhục của bên thắng trận : 


Tráo trở lật lọng : Thế giới đã biết và chứng kiến trò tráo trở của cộng sản ngay từ lúc Kissinger đi đêm với Bắc Kinh và Hà Nội : Mỹ thỏa ước ngầm sẽ rút quân, cúp viện trợ Việt Nam Cộng Hòa và bật đền xanh cho Hà Nội toàn quyền tổ chức xua quân vào chiếm Miền Nam. Nhưng với lối truyên truyền xảo trá, cộng sản vẫn rêu rao ‘đánh Mỹ cứu nước’, là chiêu bài để lừa bịp dân miền Bắc và cũng là chiếc dù cho âm mưu xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa, dù rằng hành động nầy vi phạm trắng trợn những điều khoảng trong hiệp đinh Genève 1954. Nếu thực sự người Mỹ muốn giúp Việt Nam Cộng Hòa chống lại sự xâm nhập từ miền Bắc thì đảng cộng sản không thể chịu đựng với số bom đạn do B52 trút xuống trên đầu hằng ngày, mà phải đầu hàng vô điều kiện, hoặc, thủ đô Hà Nội đã trở thành bình địa ‘không còn hòn đá nào nằm trên hòn đá nào’! Vậy đây là trò lừa bịp xảo trá của kẻ thắng trận, chẳng những đối với dân miền Bắc, Việt Nam Cộng Hòa mà còn ngay với cả thế giới ! 


Thống nhất ăn cướp : Mạo danh ‘thống nhất đất nước’ để đánh chiếm miền Nam không ngoài mục đích duy nhất là ăn cướp, vơ vét của dân, của chính phủ miền Nam cũng như tài nguyên đất nước đưa về cứu đói miền Bắc. Đây là hành động của một bọn thảo khấu thiếu văn minh, xuất thân từ rừng rú…Cả thế giới đã chứng kiến ngay từ lúc cộng sản vừa chiếm xong Sài Gòn, Hà Nội vội vàng vơ vét ngoại tệ, vàng bạc trong ngân khố của miền Nam và xử dụng hàng chục chuyến máy bay chở ra Bắc liền ngay trong đêm hôm sau. Trong số nầy có 16 tấn vàng (người ta phao tin TT Nguyễn Văn Thiệu đã mang đi) đã được các tướng cộng sản cướp về chia nhau. Võ Nguyên Giáp là người đã bỏ túi một nửa số vàng nầy ! Vậy, đã gọi là thống nhất, tức là Nam Bắc cùng một nhà, Sàigòn bây giờ cũng là Hà Nội, tài sản đất nước đều thành của chung, nhưng tại sao kẻ thắng lại vội vàng chở lén lút tài sản miền Nam đi ngay trong đêm sau đó. Sau nầy Hà Nội còn cho lệnh tháo gở các phẩm vật lịch sử của triều đại nhà Nguyễn cũng như của Quốc Gia để đưa về Bắc. Như vậy có phải là bọn cướp đi hôi của không ? Bên thắng đã chiếm xong miền Nam thì của cải vàng bạc ngoại tệ ở đâu vẫn còn đó, tại sao lại tham lam vơ vét chở về nhà mình ? Cũng trong thời gian nầy, mạnh quan thì quan chở, mạnh lính thì lính mang, mạnh dân (miền Bắc) thì dân vác từng chiếc máy quạt, từng cái bàn ủi, từng cái nồi, từng cái chén rồ chen nhau lên xe lên tàu đưa về Bắc ! Thật đẹp mặt cho kẻ thắng trận…trông giống như một đám ăn mày đi hôi của nhà giàu ! 


Giải phóng bóc lột : Đội quân thắng trận miền Bắc tiến đến đâu thì người dân đều bỏ tài sản nhà cửa chạy trốn đến đó. Mội khi ở đâu có cờ đỏ sao vàng (cộng sản) hay cờ đỏ xanh (mặt trận giải phóng miền nam) thì ở đó có nước mắt và máu của nguời dân chảy theo ! Vậy giải phóng cái gì ? Dân miền Nam thông minh, giàu có, sung túc, sống ấm no hạnh phúc thì đâu cần những tên mọi rợ, đói khát và dốt nát đến giải phóng ! Hà Nội gọi là giải phóng dân khỏi chế độ kềm kẹp Mỹ Ngụy, nhưng tại sao lại cướp của dân ? Lột sạch người miền Nam rồi đày họ lên các vùng nước độc để giết từ từ những người trước đây yên chuộng tự do ? Giải phóng cái gì mà dân miền Nam chỉ trong vài ngày đã bị biến xuống thành chó và quân cướp thắng trận cần một đêm để trở thành phú ông ? Vậy đừng bao giờ rêu rao hai chữ giải phóng để bôi bẩn thêm cái bộ mặt nhục nhã của người thắng trận. 

Cải tạo trả thù : Cải tạo của chế độ cộng sản Việt Nam là một sự trả thù bỉ ổi nhất của lịch sử nhân loại. Tôi đồng ý sau khi ngưng tiếng súng, quân lính và nhân viên của chế độ cũ, nếu cần, thì tập trung tạm thời trong một thời gian ngắn để ổn định xã hội. Nhưng tuyệt đối phải tuân theo quy chế tù binh về tập trung, làm việc, ăn uống, chăm sóc thuốc men và nhất là phải tôn trọng nhân phẩm của người thua trận. Lịch sử đã chứng minh rằng, cuộc chiến giữa Nam Bắc của Mỹ trong thời kỳ giành Độc Lập hoặc hai trận chiến vừa qua giữa Đức Quốc Xã và Đồng Minh, những con người có giáo dục và có văn hoá đều biết tôn trọng lẫn nhau giữa kẻ thắng và người bại. Nam Bắc Mỹ khi vừa ngưng tiếng súng, hai phe đã mừng rỡ bắt tay, ôm chầm vỗ về và chia sẻ thương đau cũng như đãi ngộ lẫn nhau sau thời gian đối đầu trực diện sống chết trên chiến trường. Các sĩ quan Đồng Minh bị Đức bắt làm tù binh vẫn được mang cấp bậc trong tù, vẫn sinh hoạt và ăn uống đầy đủ đúng tiêu chuẩn. Đặc biệt sĩ quan Đức biết tôn trọng phẩm giá của những sĩ quan bại trận. Hạ đưa tay lên chào trước một tù binh Đồng Minh lớn cấp hơn, và nhất là ăn nói lễ độ, xưng cấp bậc của người tù trước khi nói chuyện. Đối với cộng sản Việt Nam, thật đẹp mặt cho bọn cướp núi, chúng đã hành xác, hạ nhục những sĩ quan miền Nam sau khi người thua trận đã đưa hai tay lên đầu hàng. Đây là cái nhục của những thành phần côn đồ thắng trận ! 


Làm nhục quốc thể : Trước đây người Nhật đã tặng cho bọn cộng sản Việt Nam một danh từ độc đáo là ‘bọn dòi bọ’. Thật cũng xứng ! Hoan hô người Nhật có một cái nhìn và một câu nói thật chính xác. Cũng nằm trong chiều hướng nầy, cách đây không lâu, một Giám Mục Việt Nam cầm sổ thông hành ra nước ngoài cũng phải thốt lên rằng ‘Khi ra ngước ngoài thật xấu hổ với thông hành do nhà nước Việt cộng cấp’. Điều nầy cũng hoàn toàn đúng, vì người ngoại quốc nước ngoài khi thấy một người Việt cầm visa của Việt cộng thì họ nghĩ ngay rằng, không lao nô thì cũng đĩ điếm, hoặc không buôn lậu thì cũng thuộc loại móc túi, hoặc là dân trồng cỏ (cần sa) hay bán bột (bạch phiến). Chúng ta cũng không thể trách người địa phương được vì các tòa đại sứ Việt cộng ở hải ngoại chỉ là sào huyệt mafia, ổ buôn lậu hoặc là văn phòng bán visa, nơi hành hạ những người mang hộ chiếu Việt Nam. Các đại sứ Việt Nam cộng sản nếu không đi câu trộm tôm cua (Mỹ), buôn lậu sừng tê giác ngà voi (Phi Châu), tổ chức bao che ăn cắp hàng trong siêu thị (Nhật Bản) thì cũng là đầu sỏ các hệ thống trồng cần sa bạch phiến và buôn lậu thịt chó (Bỉ, Pháp). Vậy thật xứng đáng với ‘Chiếc Nôi Nhân Loại’ và ‘Đỉnh Cao Trí Tuệ Loài Người’ của kẻ thắng trận ! 


Thắng làm nô lệ : Bị chống đối, đảng Việt gian cộng sản ngày đêm nơm nớp sợ dân trong nước nổi dậy, lo người Việt hải ngoại chống phá cũng như sẽ bị như Hoa Kỳ đánh bất cứ lúc nào nên chúng phải bám vào Tàu, và cuối cùng, thì dâng biển bán đất và trải thảm rước bọn Chệt vào cai trị đất nước. Kẻ thắng trận đã dốt lại thiếu khả năng lãnh đạo nhưng tham nhũng vô độ, cuối cùng, để được an toàn ngồi ngai vàng cai trị đất nước Việt Nam, chúng (đảng cộng sản) đang chuẩn bị con đường thật sự an toàn bằng cách biến Việt Nam thành một tỉnh nhỏ của Tàu. Vậy kéo quân vào chiếm Việt Nam Cộng Hòa xong rồi dâng toàn bộ đất nước cho Tàu cộng là một điều ô nhục cho những kẻ gọi là thắng trận ! 


Thắng rồi làm gì ? Xin nói ngay rằng cộng sản đã đưa đất nước và dân tộc Việt Nam xuống tận cùng vực thẳm của xấu xa và tội lỗi. Những hào nhoáng bên ngoài không thể che giấu một tình trạng mục nát từ gốc rễ cũng như đói rách của đại đa số người dân bị trị. Từ cái bình đẳng vật chất cho đến quyền sống tối thiểu của người dân không được chấp nhận ở Việt Nam mà xã hội ở đây được chia ra hai thành phần rõ rệt : thống trị và bị trị. Một bên giàu có với quyền hành tột bực trong tay, một bên thấp cổ bé miệng đói khát nghèo nàn. Ngoài ra, đạo đức và văn hóa nhân bản của Việt Nam đã cuốn gói ra đi để nhường chỗ cho dối trá lừa lọc và bạo lực do đám người thắng trận đưa từ Bắc vào. Ngày nay, dưới mắt của thế giới tự do, đất nước Việt Nam là một cái chợ trời tạp nhạp trong đó giá trị con người chỉ được tính bằng đồng tiền và giá trị dân nghèo chẳng khác gì là lao nô và gái điếm. Thật nhục nhã cho thành phần cai trị là những tên thắng trận từ rừng chui ra ! 


2. Cái Vinh của bên thua trận : 


- Đĩ điếm trộm cắp : Ngay từ đầu, cộng sản Hà Nội đã to mồm phỉ báng dân miền Nam là ‘một bọn đĩ điếm đầu trộm đuôi cướp, chúng nó ôm nhau xuống tàu để một lần nữa qua Mỹ làm nô lệ’. Bây giờ thì chính bọn thắng trận đang quỳ gối khẩn cầu van xin thành phần trộm cắp đĩ điếm ngày trước hãy bao dung, tha thứ và gởi tiền bạc cho chúng, đồng thời quay về xây dựng đất nước, xóa bỏ hận thù…Đây đúng là một trò tráo trở vô liêm sỉ mà chỉ có bọn vô học mới dám diễn trò hề rẻ tiền nầy cho thế giới xem ! Người Việt hải ngoại lúc nào cũng vinh dự với quá khứ của mình : là thuyền nhân vượt biến, là thành phần Quân-Cán-Chính cũ hay cựu tù nhân chính trị…Nhưng ngược lại ra đường không bao giờ thấy một tên nào dám nhận mình là cộng sản hoặc cò mồi nằm vùng ! Sao lạ vậy ? Chắc chắn kẻ thắng trận cảm thấy xấu hổ vì sợ người đời biết xuất xứ của chúng là dòng họ ‘dòi bọ’ (danh từ người Nhật âu yếm tặng cho nhà ngụy quyền cộng sản Việt Nam). 


- Chạy theo đế quốc : Trước kia người thắng trận thường lớn tiếng tuyên truyền rằng tư bản là một chế độ thối nát và văn minh Âu Mỹ chỉ là thứ giả tạo, trong đó người bóc lột người, xã hội thối nát. Nhưng ngày nay, tên cộng sản nào đưa được con cháu ra du học tại các nước Âu-Mỹ là xem như phước đức của ông bà ba mươi đời để lại. Hơn nữa, bất cứ tên nào trong bộ chính trị cầm được visa nhập vào các xứ Âu Mỹ là xem như được lên thiêng đàng. Ngoài ra, những tên đảng viên cán bộ cao cấp đang tung tiền thuê những ông bà mai để được làm bạn thông gia với đám cướp bóc trộm cắp đĩ điếm ngày trước ! Chuyện rầm rộ nhất là tên Nguyễn tấn Dũng được làm thông gia với một gia đình gốc trộm cắp đĩ điếm tại Mỹ. Như vậy là từ nay, tên thủ tướng nầy an tâm nhờ gia đình vợ đứng ra lập công ty ma để chui tiền qua Mỹ dưới nhiều hình thức, được cái passeport qua thăm con thăm rể thoải mái, và nhất là, nếu có biến cố thì chịu nhục quỳ lạy thằng rể để nó đở đầu cho gia đình bố vợ chạy qua núp bóng dưới ‘một chế độ thối nát’ ‘văn minh giả tạo’ và ‘người bóc lột người’ ! 


- Cải tạo được gì ? : Quân-Cán-Chính của Việt Nam Cộng Hòa dù bị hàng chục năm tù khổ sai, đói khát, bệnh tật nhưng tinh thần của những anh hùng miền Nam vẫn sáng suốt và kiên trì bảo vệ chính nghĩa của mình. Chương trình tẩy não của chế độ cộng sản chẳng ảnh hưởng chút nào trong đầu óc của những người có văn hóa, có lý trí. Thời gian ‘nín thở qua sông’ năm hay mười năm đi nữa, những cái tuyên truyền láo khoét, sai sự thật, phản khoa học của Hà Nội chẳng ăn nhằm gì đối với những người bị đi tù dưới cái mỹ danh là cải tạo tư tưởng. Ngược lại, càng có cơ hội sống cung với cộng sản thì mới thấy và hiểu được những tư tưởng cũng như hành động của thành phần bần cố nông thắng trận ! Tóm lại Việt gian cộng sản hay kẻ thắng trận đã lầm : càng cải tạo thì càng bị dân miền Nam căm thù thêm nữa ! 


- Tương lai đất nước : Một ngày gần đây, thành phần thắng trận sẽ vắt giò lên cổ mà chạy, đất nước toang hoang, thì chính con cháu của ‘bọn đĩ điếm đầu trộm đuôi cướp’ sẽ là thành phần nòng cốt chính để xây dựng lại mảnh đất nghèo nàn, vô văn hóa, rỗng ruột, bệ rạc mà bọn thắng trận và con cháu của chúng đã phá nát từ một nửa thế kỷ nay. Như vậy, kẻ thắng trận còn gì để ngoan cố huênh hoang, và nhất là, những tên bồi bút và cò mồi nằm vùng chắc chắn sẽ không còn đường sống, vì lịch sử không bao giờ tha thứ cho những kẻ lầm đường lạc lối nhiều lần mà vẫn ngoan cố trước khi nhắm mắt bước vào quan tài ! 


Tóm lại, sau 38 năm thắng trận, đảng cướp Việt gian chẳng những không làm được gì cho quê hương và dân tộc mà còn khốn nạn đem đất nước dâng cho Tàu cộng, làm ô danh dòng giống con cháu Lạc Hồng. Vậy bọn bồi bút cũng như thành phần cò mồi nằm vùng từ nay hãy câm họng lại…. 


Kết luận, bây giờ có thể xác định lại, ai thắng ai thua ? Người trong nước và thế giới tự do chắc chắn đã thấy rằng, bốn mươi năm sau, chính kẻ thua (người Việt hải ngoại) đã âm thầm đánh bại người thắng (đảng Việt gian cộng sản) bằng chính nghĩa, bằng lý trí và bằng tình người. 

Đinh Lâm Thanh

Tháng Tư Buồn, 2013 












0

Quốc Hận 30-4 -Thương Tiếc Những Nữ Anh Thư Tử Chiến với Giặc Thù cộng sản




Chị Thàng đã chọn một cái chết thật dũng cảm và cao cả. Ôm hai đứa con vào lòng, chị Thàng bình tĩnh chờ cho những tên Việt cộng nhào vào, chị rút chốt...

NHỮNG NGƯỜI VỢ LÍNH THỜI LỬA BINH



Trong cuộc chiến tranh bảo quốc chống ngăn cơn sóng đỏ của cộng sản quốc tế với đạo quân tay sai tiền kích của chúng là binh đội cộng sản Bắc Việt và Việt cộng miền Nam, khuôn mặt của những người vợ lính dường như đã rất mờ nhạt đằng sau chất muối trắng đẫm đầy trên lưng áo của những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng chiến tranh càng nặng độ thì hình ảnh những người chị vô danh ấy đã dần hiện rõ trong một ánh sáng diệu kỳ, mà chúng ta chỉ có thể cúi người thật sâu xuống để tôn vinh và ngợi ca. Ðó là những người lính không có vũ khí, không số quân, không tiền lương, không cả lương thực hành quân, nhưng là những người lính tỏa hào quang chói sáng nhất trong những hoàn cảnh nghiệt ngã thắt ngặt nhất, mà đã góp phần đem chiến thắng quyết định trên chiến trường.
Ðó là NHỮNG NGƯỜI VỢ LÍNH, những người chị cao cả mà đã cùng chồng dấn mình trong cơn bão lửa của chiến tranh, cùng chia sẻ cái chết, có khi các chị hy sinh trước cả các anh. Những cái chết anh dũng trong âm thầm đó nào ai biết được. Không có Lá Quốc Kỳ Vàng Ba Sọc Ðỏ phủ trên chiếc quan tài được ghép thành từ những mảnh ván đơn sơ, không có chiếc huy chương Anh Dũng Bội Tinh Với Nhành Dương Liễu, không cả tiếng kèn truy điệu ai oán.
Những người lính đóng đồn cùng vợ con của các anh cùng sống chui rúc trong những cái hầm tối tăm ngột ngạt, dưới những những cái hố nhỏ ngập đầy nước. Những người lính nghèo nàn, rách rưới và tội nghiệp co ro ôm súng gác giặc và đánh giặc trong cái lạnh xé thịt của đêm. Ăn uống thì đạm bạc đến không có gì đạm bạc hơn được nữa. Một cái nồi cơm méo mó, với vài con cá nhỏ kho trong chất nước mắm hạng bét mặn chát những muối, một dĩa rau muống ruộng hay rau đắng xơ xác, mà có thể tìm thấy mọc đầy khắp những vũng nước đọng trên những cánh dồng lầy.
Cả gia đình người lính Ðịa Phương Quân hay Nghĩa Quân quây quần chung quanh mâm cơm đơn sơ đó chấp nhận sự thua thiệt của mình. Không than thở, không ta thán và vui lòng với niềm hạnh phúc mong manh của mình. Một năm 365 ngày, mười năm, hai mươi năm, cho đến ngày cuối cùng của cuộc chiến, hơn bảy ngàn đêm những người chị ấy chưa từng bao giờ biết ngủ yên giấc là gì. Chị thao thức đến nửa khuya, lắng nghe tiếng đại bác vọng ì ầm về thành phố từ phía mặt trận có anh ở đó, chị thổn thức nguyện cầu cho anh được bình yên, để anh có một ngày được về với chị và con, dù chỉ là những khoảnh khắc về phép thật quá hiếm hoi. Hay nếu chị cùng chồng trấn thủ lưu đồn, anh chiến đấu cơ cực như thế nào, anh ăn ngủ chập chờn ra sao, thì chị cũng cơ cực và chập chờn ngần ấy.
CHỊ PHẠM THỊ THÀNG, NỮ ANH THƯ ÐẤT GÒ CÔNG

Người vợ lính ở tiền đồn cáng đáng cùng một lúc hai công việc, mà công việc nào cũng biểu hiện hình ảnh và đức tính cao quí của người phụ nữ Việt Nam. Thứ nhất, đức tính đảm đang tận tụy của người vợ, người đàn bà Việt Nam quán xuyến chuyện gia đình, trông nom dạy dỗ con cái và nấu nướng những bữa ăn.
Thứ hai, khi quân giặc đã thấy dẫy đầy ngoài những vòng rào kẽm gai, thì những người nữ chiến sĩ chưa từng một ngày được huấn luyện ở quân trường ấy đã chiến đấu như bất cứ người lính chuyên nghiệp nào. Chị cũng biết dùng máy truyền tin gọi Pháo Binh, chị biết sử dụng thành thạo mọi loại súng trong đồn có, chị ném lựu đạn ác liệt và chính xác, tấm thân nhỏ bé của chị oằn nặng dưới những thùng đạn tiếp tế. Và chị cũng sẵn sàng nằm gói thân thiên thu trong chiếc poncho, để tên chị vĩnh viễn đi vào lịch sử. Chúng ta có nhiều người chị như vậy lắm. Ở ngay tại đồng Giồng Ðình này thì ít nhất cũng có những chị Phạm Thị Thàng và Trần Thị Tâm.
Ðêm 2.10.1965, với âm mưu làm xáo trộn hệ thống tiếp viện của những đơn vị diện địa trong khu vực Tiền Giang để dễ dàng thanh toán mục tiêu chính nào đó, chỉ trong một đêm Việt cộng đã tổ chức tấn công 11 vị trí của quân ta với quân số thật lớn. Ðồn Giồng Ðình thuộc tỉnh Gò Công cũng bị áp lực rất nặng của quân địch khi hứng chịu cuộc cường kích của 300 lính cộng.
Ðây là một lực lượng chính qui Việt cộng với hỏa lực rất mạnh, chúng quyết tâm hủy diệt đồn Giồng Ðình nhỏ bé, mà chỉ có vỏn vẹn một Trung Ðội Nghĩa Quân 24 tay súng trấn giữ. Là những con ác quỷ hung tợn và thâm độc, lực lượng cộng quân đã bố trí ở hướng có nhiều nhà dân chúng, vừa làm bia đỡ đạn cho chúng, vừa ngoác miệng tuyên truyền gây căm thù nếu quân ta bắn trả. Người dân, nhất là những ông bà lão già, đàn bà và trẻ con luôn luôn là những cái bia sống đỡ đạn cho bọn giặc hèn nhát gọi là những “người giải phóng”. Với quân số ấy, vũ khí hùng hậu ấy mà chúng cũng ngán ngại 24 chiến sĩ Nghĩa Quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đến nỗi phải cậy nhờ đến máu thịt của đồng bào để có cơ may thủ thắng, thì còn từ ngữ nào, hình dung từ tồi tệ nhất nào để diễn tả bộ mặt cùng hung cực ác rất đốn mạt của cộng sản nữa không.
Ðúng 2 giờ đêm, quân cộng dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Thượng Úy Sáu Bích, đã mở cuộc tấn công từ hai mặt đánh vào Giồng Ðình, với sự tin tưởng điên rồ, rằng chúng sẽ thanh toán cái tiền đồn nhỏ xíu này trong một thời gian ngắn. Chiến thắng dường như là chắc chắn, vì với quân số mười lần hơn, mười đè một, dẫu chúng có thí chín tên thì cũng có thể hạ gục được một chiến sĩ Nghĩa Quân Giồng Ðình.
Trên lý thuyết, thì giả thiết đó dường như đúng. Nhưng trên trận địa, người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa luôn luôn thể hiện những chuyện phi thường, mà rất hằng hiện hữu trên bất kỳ chiến trường nào, quả thật cộng quân đã chọn lầm mục tiêu. Sau ba đợt tấn công hung bạo, tưởng gạch đá cũng phải nát thành tro, đã chiếm được 2 trong số 3 lô cốt trong đồn, cộng quân vẫn phải rút trở ra. Cuộc tấn công lần thứ tư được hối hả tổ chức và thực hiện, với quyết tâm san bằng Giồng Ðình. Nhưng liệu 24 chiến sĩ Nghĩa Quân có cho phép điều đó không. Câu trả lời là không, không chỉ đến từ ý chí hừng hực tử thủ của các anh, mà còn là từ đôi bàn tay yếu mềm của những người vợ lính đang sống cùng với chồng con của các chị trong đồn. Phải, cuộc chiến thắng cuối cùng của Nghĩa Quân đồn Giồng Ðình sẽ không thể thực hiện được, nếu không có sự góp sức chiến đấu của những người chị này. Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh. Không phải chỉ những người chị dũng cảm ấy không thôi, mà cả trẻ con cũng đánh.
Ðồn Giồng Ðình nằm ở một vùng thôn ấp hẻo lánh trong tỉnh Gò Công, do một Trung Ðội Nghĩa Quân trấn giữ, với thành phần chỉ huy gồm có anh Nguyễn Văn Thi, Ðồn Trưởng, anh Lê Văn Hùng, Ðồn Phó và anh Lê Văn Mẫn, âm thoại viên. Trấn thủ một vị trí hung hiểm như vậy, không chỉ có 24 tay súng mà đã đủ, nên tất cả những người vợ lính trong đồn đều đã được chồng huấn luyện sử dụng thành thạo những loại máy móc truyền tin và vũ khí. Như vậy số tay súng đã được nhân lên gấp đôi.
Trong nhiều trường hợp, đến những giây phút tử sinh tuyệt vọng nhất, những em bé cũng tham chiến, khi các em gan dạ bò dưới lưới đạn của giặc để đem tiếp tế đến cho cha và mẹ. Không ai buộc những người vợ lính, con lính cầm súng đánh địch. Nhưng chính những người vợ lính, con lính ấy làm sao có thể ẩn náu tìm cái sống trong khi chồng và cha của họ sắp ngã gục ngoài chiến hào.
Khi chấm dứt đợt tấn công thứ ba, địch tạm rút để tái tổ chức tấn công, thì tình trạng bên trong đồn Giồng Ðình đã khá là bi đát. Ðã có đến 16 chiến sĩ Nghĩa Quân bị thương, chỉ còn 8 Nghĩa Quân còn chiến đấu được. Âm thoại viên Lê Văn Mẫn bị thương ở đầu trong lúc anh đang cố gắng gọi máy về Tiểu Khu.
Anh Mẫn gục xuống buông chiếc ống liên hợp. Chị Trần Thị Tâm, vợ anh Mẫn vội đặt con bên cạnh anh và chộp lấy ống liên hợp. Liên lạc được tiếp nối, chị Tâm nghiễm nhiên trở thành một âm thoại viên, và là cứu tinh của đồn Giồng Ðình. Ở một góc đồn, anh Lê Văn Hùng và chị Phạm Thị Thàng, vợ anh, và hai đứa con nhỏ đang phải đối đầu với một lực lượng quá đông của địch.
Nhìn ra ngoài hàng rào kẽm gai, giặc đã đã tràn vào đen ngòm như những con quái vật hung hãn. Anh Hùng chỉ còn trong tay cây tiểu liên Thompson và 16 trái lựu đạn, chị Thàng có một khẩu Carbine. Thật tội nghiệp cho hai đứa nhỏ, sức ép của bộc phá và súng SKZ của Việt cộng bắn vào quá gần, các em không còn khóc được nữa mà đã nằm bất động dưới chân hai vợ chồng anh Hùng. Chị Thàng thì thào:
- Chúng đang phá lô cốt chánh, để em bắn yểm trợ anh bò về giữ. Lô cốt mất là đồn mình mất, em nằm tại đây giữ mấy đứa nhỏ, nếu chúng tràn vào thì… thì… em ném lựu đạn ra, có thể cầm cự đến sáng được.
Anh Hùng ngần ngừ, anh rưng rưng nhìn vợ con, rồi nhìn về phía lô cốt. Tiếng súng từ lô cốt cuối cùng đã yếu ớt lắm, có lẽ mấy Nghĩa Quân cố thủ ở đó đã kiệt quệ quá rồi. Số phận của anh Thi Ðồn Trưởng thế nào. Anh Hùng lắc đầu không dám nghĩ đến chuyện xấu nhất đã xảy ra cho đồng đội. Nhưng nếu Việt cộng chiếm được lô cốt ấy, thì coi như đánh dấu chấm hết cuộc kháng cự. Anh Hùng phải quyết định, dù quyết định đó quá đau xót, là bỏ lại vợ con, mà trong lúc quân giặc đã hò hét ngay sát bên rồi:
- Anh chạy theo giao thông hào, em bắn yểm trợ cho anh.
Anh Hùng nhìn chị Thàng và hai đứa nhỏ lần cuối cùng. Trong lòng anh quặn lên một nỗi bi thương. Trời ơi, vợ con mình. Hai đứa nhỏ chẳng biết còn sống hay đã chết. Anh phóng mình xuống hào chạy băng băng về hướng lô cốt. Cây Carbine trên tay chị Thàng run lên, những tràng đạn rải vào những cái bóng đen đã quá gần. Anh Hùng đã bò vào được lô cốt, giữa những tiếng đạn nổ rền trời. May quá, anh Thi trưởng đồn vẫn nguyên vẹn. Súng SKZ của địch thụt ầm ầm, nhưng anh Hùng vẫn có thể nghe được từng tiếng lựu đạn nổ từ phía công sự của chị Thàng.
Nước mắt anh rơi lả chả trên nền đất. Anh đã đếm được đến con số 15, mà tiếng súng của địch vẫn nỗ dòn dã ngay sát tuyến phòng thủ của chị Thàng. Anh biết giây phút định mệnh thảm thiết nhất cũng đã điểm. Chị Thàng sẽ làm gì với quả lựu đạn thứ 16. Anh Hùng đau đớn rên lên trong lòng : “Chỉ còn một trái lựu đạn nữa thôi, làm sao em cầm cự được đến sáng”. Chính anh cũng không có được một giây để nghĩ tiếp cái gì sẽ xảy đến cho vợ con mình, vì dưới chân lô cốt anh tử thủ đã đông nghẹt quân giặc. Ðủ mọi thứ loại súng nỗ chát chúa khắp đồn, anh Hùng không biết chắc là mình đã nghe được tiếng nổ của trái lựu đạn thứ 16 chưa.
Cuộc chiến đấu đã kéo dài được một tiếng đồng hồ, quân địch đã phá được lớp kẽm gai cuối cùng và sắp tràn ngập đồn Giồng Ðình. Lúc đó là 3 giờ sáng rạng ngày 2.10.1965. Tình hình đã quá nguy ngập. Anh Nguyễn Văn Thi, Ðồn Trưởng, quyết định thà hy sinh còn hơn là để đồn lọt vào tay địch. Anh giật lấy ống liên hợp từ tay chị Tâm và thét lớn:
- Hãy bắn lên đầu chúng tôi ! Bắn vào giữa đồn… Hai lô cốt thứ nhứt và thứ hai đã thất thủ. Tụi tui ở lô cốt thứ ba. Hãy bắn lên trên đầu chúng tôi, Việt cộng đông lắm. Bắn đi… bắn…
Sau tiếng gọi thống thiết của người Ðồn Trưởng, Pháo Binh Tiểu Khu Gò Công lập tức bắn vào đồn với loại đầu nổ cao. Loại đạn đặc biệt này nổ khi cách mặt đất chừng 4, 5 thước, rất hữu hiệu tiêu diệt biển người địch, quân ta núp trong lô cốt vẫn có hy vọng sống sót. Những cái bóng đen nhập nhoạng dưới ánh sáng hỏa châu văng tung tóe, tiếng kêu dẫy chết của chúng như tiếng rú của quỷ. Hàng tràng đạn nổ cao vẫn dội ùng oàng xuống đồn. Chiếc lô cốt cuối cùng vẫn đứng vững, anh Thi cùng anh Hùng từ trong những lổ châu mai bắn tỉa từng tên địch. Giữa tiếng súng nổ dòn, dường như người ta nghe âm thanh rì rì của máy bay. Không Quân Việt Nam đã tới. Những chiếc A1 khu trục cơ đã xuất kích. Ðến đây thì “Thượng Úy” Việt cộng Sáu Bích, tên chỉ huy trận đánh đã có thể nhận thấy rằng, cuộc tấn công đồn Giồng Ðình đã đánh dấu chấm hết, với phần thắng nghiêng về phía Nghĩa Quân Việt Nam Cộng Hòa. Lúc 4 giờ 30 sáng, chiến địa hoàn toàn im tiếng súng. Quân địch đã kéo những xác chết và những tên bị thương chạy trốn vào phía bóng tối.
Khi ánh hừng đông của một ngày mới đã lên, hai Ðại Ðội Ðịa Phương Quân do chính Trung Tá Tiểu Khu Trưởng Gò Công chỉ huy đã đến và tổ chức bung quân ra lục soát. Quân cộng đã để lại trận địa 23 xác chết, ở giữa đồn có 6 xác khác nằm bên cạnh lô cốt thứ ba, nơi mà anh Ðồn Trưởng Thi, Ðồn Phó Hùng và chị Tâm giữ máy truyền tin đã kháng cự mãnh liệt, thà chết không hàng. Những tên Việt cộng này mang trên mình rất nhiều lựu đạn và bộc phá, chắc là chúng quyết thí mạng để phá cho bằng được ổ kháng cự cuối cùng này.
Anh Thi và anh Hùng đã bắn địch theo lối xâu chéo, nghĩa là bắn chéo góc với nhau tạo thành một xạ trường quét gọn tất cả những tên cộng nào nằm trong đó. Ngày hôm sau, một người thường dân bị Việt cộng bắt đi tải thương lén trốn về được đã cho biết số bị thương của chúng chở đầy sáu chiếc ghe tam bản. Một lính cộng may mắn bị thương tên Dương Văn Thiều, 18 tuổi, sống sót và bị bắt làm tù binh. Tại sao may mắn ? Vì nếu anh ta bị kéo đi theo vào bưng biền, nếu không bị chết vì nhiễm trùng, bị những quân y sĩ Việt cộng cưa cắt bằng những loại cưa và đục của thợ mộc, thì cũng bị cấp chỉ huy ra lệnh mang anh đi thủ tiêu. Ðó là lý do giải thích tại sao sau ngày 30.4.1975, người dân Miền Nam hiếm thấy người thương phế binh cộng sản trên đường phố.
Nhưng đối với anh Hùng, thì tất cả những gì mà Viêt cộng đã trả giá cho cuộc tấn công không làm anh quan tâm. Ngay khi tiếng súng vừa chấm dứt., quân cộng đã rút đi, thì anh đã như một người điên lao mình ra chỗ chiến hào mà chị Thàng đã một mình một súng trấn giữ ở đó, với một niềm hy vọng mỏng manh, rằng đừng bao giờ trái lựu đạn thứ 16 được rút chốt. Anh Hùng bò vào khúc hào mà anh đã nuốt nước mắt chạy đi. Chị Thàng cùng hai đứa con của anh nằm chết bên cạnh ba xác Việt cộng. Anh Hùng gục xuống như thân cây chuối bị một nhát dao bén chém ngọt làm đôi. Anh biết, nếu trái lựu đạn thứ 16 nổ thì chị Thàng cũng đi vào cõi chết, vì chị Thàng sẽ không bao giờ cho phép giặc bắt chị hoặc đạn của chúng bắn vào người chị. Chị Thàng đã chọn một cái chết thật dũng cảm và cao cả. Ôm hai đứa con vào lòng, chị Thàng bình tĩnh chờ cho những tên Việt cộng nhào vào, chị rút chốt!
Tiếng nổ kinh thiên cùng với xác thịt và máu của người nữ chiến sĩ đó đã được đánh đổi với ba mạng giặc. Anh Hùng ôm xác vợ con vào lòng và gần như ngất xỉu. Nhưng khi nhìn ra ngoài, những xác giặc thù nằm ngỗn ngang khắp nơi, trong nỗi đau khổ tột cùng của mình, anh Hùng thấy trong lòng dậy lên một niềm tự hào đến nghẹn ngào. Sự hy sinh của chị Thàng đã cứu sống được tất cả những thương binh Nghĩa Quân cùng vợ con các anh, nhưng trên hết cứu sống chính sinh mạng của người chồng mà chị yêu mến. Những viên đạn Carbine và 15 trái lựu đạn của chị đã đóng góp vào sự tồn tại kỳ diệu của đồn Giồng Ðình. Một người lính chuyên nghiệp và thiện chiến nhất cũng chỉ làm được đến ngần ấy. Nếu cái lô cốt thứ ba không đứng vững, thì chắc chắn tất cả sinh mạng mấy mươi người Nghĩa Quân và vợ con của đồng Giồng Ðình đều sẽ chết hết.
Anh Hùng ẳm chị Thàng ra ngoài, để trông thấy những người còn sống, những người vợ lính khác đã gục đầu khóc tiếc thương chị Thàng. Những nấm mộ đất được đắp vội với ba tấm bia tang tóc. Một của chị Phạm Thị Thàng, và hai kia của cháu Lê Văn Dũng và Lê Tấn Sỹ. Ôi, những người vợ của lính trong thời lửa binh. Chị Phạm Thị Thàng, chị Trần Thị Tâm, và nhiều người chị khác trên khắp nẽo chiến trường, chị Thạch Thị Ðịnh, chị Bùi Thị Xiếu, chị Am Reng. Người lính của chúng ta, những công dân xếp hạng chót nhất trong bậc thang xã hội, nhưng là những người hứng chịu oan nghiệt trước nhất, là bức tường chắn cho sự an toàn của hậu phương phồn thịnh và hạnh phúc. Trong đời của các anh không có được một thứ ưu tiên vật chất nào cả, ngoài cái ưu tiên phải hy sinh và chết. Có những người lính từ Miền Tây ra tận miền hỏa tuyến hay trên vùng cao nguyên sương mù Miền Trung, nhiều năm liền không có lấy được một ngày phép về thăm gia đình. Nếu anh may mắn, thật đau xót, quân thù bắn anh bị thương, thì anh mới có cái diễm phúc được nắm trong tay tờ giấy phép. Còn nếu sự gọi là may mắn đó đi xa hơn một bước, anh chết, thì anh được phép dài hạn trở về và vĩnh viễn được an nghỉ ở nơi đã sinh ra anh. Ðầu năm 1972, trong một trận đánh của Sư Ðoàn 3 Bộ Binh tại khu vực Cồn Tiên nằm sát phía Nam khu phi quân sự bên này bờ sông Bến Hải, một tiểu đoàn sau nhiều ngày cố gắng đã không thể chiếm được một cao điểm. Vị Tiểu Ðoàn Trưởng gọi bốn người lính gốc Miền Tây lên hứa sẽ cấp mỗi anh mười ngày phép nếu các anh chiếm được ngọn đồi ấy. Bốn người tráng sĩ Kinh Kha đã nai nịt tề chỉnh, mang thật nhiều lựu đạn bò lên, mỗi người cầm một cây gậy ngắn dò đường. Ðêm tối như mực. Hễ chọt trúng cái lổ nào là thảy lựu đạn vô cái lổ đó, vì ở đó chính là cái miệng hầm chốt của địch. Ðến sáng, bốn người dũng tướng vô danh đó đã reo hò trương Cờ Vàng Việt Nam trên đỉnh cao điểm. Ôi, những ngày phép đã trở thành một ân huệ chứ không phải là một quyền lợi đương nhiên của những người lính trận.
Người vợ lính cùng chia sẻ với chồng những nỗi đắng cay thiệt thòi đó, bằng tất cả sự câm nín nhẫn nhục và vui lòng với những gì mình có. Một góc hầm tối tăm, một chiếc ghế bố cũ, vài cái nồi, chảo nhem nhuốc, những cái chén sành và những đôi đũa tre, cùng tiếng cười của lũ trẻ thơ cũng đủ làm nên thành niềm hạnh phúc vĩ đại của những người vợ lính. Chị Thàng đã chết đi, anh linh của chị cùng hai cháu bé đã thăng thiên lên cõi vĩnh hằng, nhưng những người còn sống cùng thời với chị, cho mãi đến tận bây giờ và ngàn đời sau, dân tộc Việt Nam sẽ không bao giờ quên tên chị. NGƯỜI CHỊ CAO CẢ PHẠM THỊ THÀNG. Vì tên chị đã được trân trọng ghi chép vào những trang bi tráng nhất của lịch sử dân tộc Việt Nam chống Cộng sản quốc tế và Cộng sản Hà Nội, một lũ hung đồ diệt chủng, diệt dân tộc gớm ghiếc nhất của thế kỷ thứ 20 và của lịch sử hình thành nhân con người.
AMRENG, NGƯỜI NỮ CHIẾN SĨ CAO NGUYÊN

Quân cộng sản hành quân trên vùng cao nguyên thường khinh rẻ và húng hiếp các sắc dân Thượng rất thậm tệ. Chúng bắt trai tráng đi dân công, thậm chí cho bổ sung vào những đơn vị Thượng cộng, người làng thì bị ép buộc đóng góp lương thực, lúa gạo. Chúng dùng muối, là thứ tối cần của người dân miền cao, để đổi chác một cách rất bất lợi cho người Thượng. Người Thượng sống vất vả quanh năm, chỉ trông cậy vào những mảnh đất rừng khai phá để trồng trọt chút hoa màu hay trồng lúa rẫy, không đói đã là may lắm rồi, có còn đâu dư dả để cung phụng cho bọn Phỉ Cộng. Có nhiều trường hợp cả làng trong rừng sâu chịu không nỗi cảnh áp bức, giết chóc, đã kéo nhau ra quận hay tỉnh để xin nương náu với người Kinh.
Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã lập Bộ Phát Triễn Sắc Tộc để giải quyết những vấn đề của người thiểu số. Hàng trăm trại tiếp cư tị nạn cộng sản đã được thiết lập để đón tiếp đồng bào Thượng và giúp đỡ đồng bào tạo dựng cuộc sống mới. Ðất canh tác được cấp phát vô điều kiện cho đồng bào Thượng tị nạn cộng sản. Thông thường thì mỗi gia đình thiên tai hay tị nạn đều được cấp phát 10 bao xi măng và 20 tấm tôn để cất lại một căn nhà nhỏ. Một nước nhỏ, nghèo là Việt Nam Cộng Hòa, quanh năm chiến tranh, ngân khoản thiếu thốn, mà đã cắn răng gồng gánh giúp đỡ hàng triệu người đồng bào bất hạnh của mình. Không phải “Lá lành đùm lá rách nữa”, mà là “Lá rách đùm lá nát”. Ðã vậy mà thôi đâu, những làng định cư nhỏ bé và nghèo nàn ấy vừa được dựng lên chưa được bao lâu, thì Việt cộng đã tràn về đốt phá tan hoang. Những chiếc lá rách nát lại cắn răng san sẻ cho nhau những gì mình có. Dưới mắt cộng sản, thì những người dân chạy về phía chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng Hòa xin được che chở và giúp đỡ, đều mang cái tội tày trời là “dân ngụy”, là “phản động”, dù có bắn bỏ hay đốt cháy nhà cửa của họ cũng là chuyện trừng phạt đương nhiên của điều mà chúng gọi là cuộc “cách mạng giải phóng”.
Với bản chất là một lũ cướp chuyên nghiệp và man rợ, cộng sản Hà Nội hiện nay không bao giờ từ bỏ cơ hội chiếm đoạt đất khẩn hoang của người Thượng. Chúng chờ cho các sắc tộc Thượng khai phá rừng tạo dựng nên thành những vùng sinh sống màu mỡ trên những tỉnh cao nguyên, là chúng kiếm chuyện cứớp đoạt một cách trắng trợn ngay, nại lý do đất đai thuộc về quyền quản lý của nhà nước, người dân không có quyền sỡ hữu. Mặt khác, chúng áp dụng hình thái thực dân, cho di chuyển dân Kinh gốc Miền Bắc vào ở trên đất mà người Thượng đã sinh sống từ ngàn năm, lấn dần, lấn dần, người Thượng kém thế phải lùi mãi vào tận rừng sâu,ở chỗ chỉ có nước độc, bệnh hoạn và đói kém. Ðã thế mà cộng sản nào chịu buông tha, chúng vẫn cứ cho phép những người gọi là di dân tràn vào như vết dầu loang, để đồng bào Thượng chịu không nỗi phải chạy qua đất Miên xin tị nạn. Ðây là một tiến trình có chủ mưu, có sách lược để tiêu diệt dần mòn dân Thượng. Chúng ta có thể thấy ngay rằng, những người di dân Miền Bắc đã không biết rằng mình đang được rải ra làm phên dậu phòng thủ dọc theo dãy biên thùy Trường Sơn, án ngữ con đường đổ xuống đồng bằng duyên hải, nếu có một đạo quân đánh sang từ đất Lào và Miên. Cũng tốt, cái phên dậu đó giống như con dao hai lưỡi, rồi cũng có một ngày những đồng bào di dân nghèo Miền Bắc đó sẽ trở thành một lực lượng mạnh có khả năng thọc sâu mũi dao vào tận tim của bọn cộng sản để tiễn chúng xuống tận đáy địa ngục.
Tức nước thì có lúc cũng phải vỡ bờ. Ngày 12.4.2004, nhiều chục ngàn dân Thượng của các sắc tộc sinh sống trong những tỉnh Kontum, Pleiku, Darlac, Phước Long, Bình Long đã kéo vào những thành phố tỉnh lỵ để hình thành một cuộc phản kháng bất bạo động, phản đối cộng sản Hà Nội đàn áp đức tin đạo Tin Lành, chiếm đoạt đất đai và quyền sống căn bản của người Thượng. Dưới mắt cộng sản, dù chỉ là một biểu hiện phản đối nhỏ cũng đã được gán cho cái tội phản động, tội chết, chứ đừng nói gì đến những cuộc tập trung đông đảo như vậy. Hàng sư đoàn bộ binh của cộng sản đã được điều động lên phối hợp với công an đàn áp dã man cuộc tập trung. Hàng trăm đồng bào Thượng đã bị bắn chết, những người bị thương bị đem vào cô lập trong bệnh viện nhà nước, không ai có thể vào thăm viếng, kể cả những phóng viên và những nhà ngoại giao nước ngoài.
Ngày đầu xuân Tân Hợi 1971, trên miền cao nguyên của Quân Khu II, trong chiến dịch quân sự mà cộng sản gọi là Cao Ðiểm Tân Hợi nhằm quấy phá những tỉnh biên thùy đã không thực hiện được. Có thể bởi hậu quả của những cuộc hành quân Tây chinh vượt biên Cửu Long của Quân Ðoàn IV, Toàn Thắng của Quân Ðoàn III và Bình Tây của Quân Ðoàn II trong năm 1970 đã gây tổn thất nặng ở những kho tiếp tế hậu cần của cộng sản, nên chúng khó thể đủ sức mở được những mặt trận lớn như mong muốn. Ðêm 31.1.1971, lúc 3 giờ sáng, một lực lượng cộng quân tấn công vị trí của Ðại Ðội 838 Ðịa Phương Quân tại làng Plei Kênh Săn thuộc tỉnh Pleiku..
Cuộc tấn công đã rất sớm bị thảm bại vì quân địch đã không thể ngờ rằng, có những người vợ lính cũng đã chiến đấu dũng mãnh như thế nào. Ðại Ðội 838 Ðịa Phương Quân đa số chiến sĩ là người dân tộc Thượng, là những chiến sĩ sinh ra và lớn lên ở giữa núi rừng cao nguyên, đã hun đúc các anh trở thành những con người cứng rắn như những tảng đá khổng lồ trên triền dãy Trường Sơn. Người Thượng quen sống kiếp du mục du canh, nên khi người lính Thượng Ðịa Phương Quân đóng đồn ở đâu thì vợ con của các anh cũng đi theo và nhanh chóng thích ứng với môi trường cùng cuộc sống mới ở nơi đó. Tuy là phụ nữ, nhưng những người đàn bà Tây nguyên dẻo dai không kém gì người đàn ông Thượng. Vai mang gùi nặng trên lưng, chân trần chai sạn vì đá cứng và gai nhọn của núi rừng, cùng hoàn cảnh sinh tồn khắc nghiệt, bất cứ một người phụ nữ Thượng nào cũng đã được thiên nhiên rèn luyện nên thành một mẫu người khỏe mạnh, rắn rỏi, nhưng vẫn giữ được những dường nét mềm mại tràn đầy mạch sống. Cho nên khi cuộc chiến đấu nổ ra, thì những người đàn bà đó đã rất nhanh chóng trở thành những người nữ binh hăng hái cầm súng đánh địch. Một trong những người chị đó là chị Ksor Amreng, vợ của Binh Nhứt Kpa Dan.
Anh chị Dan và Amreng đều là người sắc tộc Djarai, sinh quán ở quận Phú Túc, tỉnh Phú Bổn. Từ sau khi thành hôn, anh Dan nhập ngũ, thì chị Amreng cũng đã theo chồng lên sinh sống trong những tiền đồn hẻo lánh ở biên giới trong quận Phú Nhơn, tỉnh Pleiku, những địa danh thật xa lạ với chị : Queng Mep, Plei Kênh Săn. Khi quân cộng sản Bắc Việt nổ súng tấn công Plei Kênh Săn, chị Amreng đã vững vàng trong tư thế phụ xạ thủ đại liên cho chồng. Khẩu đại liên M60 nằm phía sau những lổ châu mai nhỏ đã bị giới hạn rất nhiều khu vực tác xạ, anh Dan quyết định dời khẩu đại liên sang một vị trí khác có xạ trường rộng lớn và bao quát hơn. Trong lúc chị Amreng chạy đi chạy lại để khiêng những thùng đạn đại liên sang vị trí mới, thì có ba tên Ðặc Công Việt cộng đã nhào vào đánh cận chiến với anh Dan. Anh Dan thật dũng cảm, như một con beo ở rừng xanh, bằng tay không anh đã vật lộn với chúng mà không nao núng. Chị Amreng vừa vác một thùng đạn đến, quát bảo anh Dan tránh ra xa. Hiểu ý vợ, anh Dan lăn một vòng, một trái lựu đạn M26 từ trong tay chị Amreng được ném tới. Ba tên Ðặc Công chưa kịp phản ứng, thì một tiếng nổ chát chúa đã đốn gục chúng xuống ngay bên cạnh đường giao thông hào. Khẩu đại liên M60 trong tay đôi vợ chồng Dan và Amreng đã bắt đầu nổ dòn dã ngăn chận tất cả những cuộc tấn công biển người của địch vào đồn. Anh Dan đang say mùi thuốc súng, anh đã không để ý nhiều tên Ðặc Công khác đã bò vào gần khẩu đại liên để mở cuộc cận chiến lần nữa.
Nhưng chúng không biết rằng người nữ binh vóc dáng nhỏ bé với khuôn mặt hiền lành như một em bé đã rất cảnh giác. Ba trái lựu đạn M26 đã được chị quăng ra rất chính xác vào những cái bóng đen đang bò lổn nhổn. Giữa tiếng súng nổ ầm ầm, chị Amreng đã có thể nghe thấy tiếng kêu gào thảm thiết của những lính địch trúng phải lựu đạn của chị. Ðến lúc này thì anh Kpa Dan chợt nhận ra rằng mình đã bị thương, chị Amreng lập tức trở thành xạ thủ chính, anh Dan lùi qua một bên làm xạ thủ phụ cho chị. Hào hùng không kém gì những đấng nam nhi, người nữ chiến sĩ ấy đã cùng với khẩu M60 đốn ngã hàng loạt cuộc tấn công của giặc. Sinh mạng của cái đồn nhỏ Plei Kênh Săn phần lớn trông cậy vào khẩu đại liên. Nói một cách chính xác, toàn tiền đồn cậy nhờ vào đôi bàn tay nhỏ nhắn của một cô gái mà ngày thường rất hiền hòa và ít nói này.
Khi ánh bình minh lên, giặc chấp nhận thua cuộc và đã rút đi, chiến trường đã hoàn toàn im tiếng súng, lũ chim rừng sau một đêm kinh hoàng đã ríu rít hát ca trên cành lá đón chào một ngày mới. Tin chiến thắng của Plei Kênh Săn đã bay về đến Pleiku và cái tên Ksor Amreng thật dịu dàng và thật đẹp ấy đã được người dân thành phố gọi là buồn muôn thuở này nhắc nhở nhiều. Kinh lẫn Thượng, đồng bào Pleiku đã chung góp gửi đến chị Amreng và Ðại Ðội 838 Ðịa Phương Quân nhiều tặng phẩm và tiền thưởng. Thiếu Tướng Ngô Dzu, Tư Lệnh Quân Ðoàn II & Quân Khu II đã đích thân bay trực thăng đến Plei Kênh Săn trân trọng trao gắn cho người lính không số quân Amreng chiếc huy chương cao quí Anh Dũng Bội Tinh, một vinh dự hiếm có dành cho một người dân sự .
Tấm gương chiến đấu của chị Ksor Amreng là một trong nhiều tấm gương thầm lặng còn chưa được biết của những người chị trên cao nguyên trong cuộc chiến tranh bảo quốc bi tráng của dân tộc Việt Nam. Ngày nay, những thế hệ đi sau anh chị Dan và Amreng sẽ mãi nhớ rằng, dòng máu kiên cường uy vũ bất năng khuất, mà anh chị cùng những chiến sĩ Thượng, từng một thời thể hiện dưới lá Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hòa và Quân Kỳ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, là một niềm kiêu hãnh sáng chói mà họ, những đồng bào Thượng đang bị kềm kẹp oan khuất dưới bàn tay sắt máu của cộng sản Bắc Việt, cũng sẽ có ngày vùng lên ném những quả lựu đạn, và bắn những tràng đại liên vào giữa mặt bọn chúng, để hủy diệt chúng, bọn vô dân tộc, vô thần đó, và cho chúng biết lòng quật khởi phi thường của người dân Nước Nam.

Phạm Phong Dinh
18/4/2013






^Xem Lại Trên